NGUYỄN THỊ LAN 阮氏蘭 - Không phải Nguyễn Hữu Thị Lan
Theo Tôn phả Nguyễn Phước tộc, trong đó ghi rõ
NGUYỄN THỊ LAN 阮氏蘭 - Nam Phương Hoàng Hậu
Bà húy Nguyễn Thị Lan còn có tên thánh là Marie Thérèse Nguyễn Hữu Hào. Bà là con của Long Mỹ Quận Công Nguyễn Hữu Hảo, người tỉnh Gò Công. Bà sinh ngày 17 tháng 10 năm Giáp dẫn (04.12.1914),
Năm Đinh mão (1927) bà du học tại Pháp, học tại trường Couvent des oiseaux tại Paris, Năm Nhâm thân (1932) bà trở về nước và gặp vua Bảo Đại trong một chuyến nghỉ mát ở Đà Lạt.
Ngày 6 tháng 2 năm Giáp tuất (20.3.1934) bà tấn cung, vào ở điện Kiến Trung. Ngày 10 tháng 2 năm Giáp tuất (24.3.1934) được tấn phong là Nam Phương Hoàng Hậu. Lễ tấn phong được cử hành long trọng tại điện Dưỡng Tân,
Năm Kỷ mão (1939) bà theo vua Bảo Đại sang Pháp cùng với ba con. Trong chuyến di nảy bà cùng vua ghé La Mã và được Đức Giáo Hoàng đón tiếp.
Sau khi vua Bảo Đại thoái vị, bà sang sống tại Pháp và ở đấy với các con cho đến lúc mất.
Bà mất năm Quí mào (1963). Lăng bà ở tại Pháp.
Bà sinh được 2 con trai và 3 con gái :
- Nguyễn Phúc Bảo Long : Sinh năm Ất hợi (1936) được phong Hoàng Thái Tử vào năm Kỷ mão (1939), hiện sống tại Pháp.
- Nguyễn Phúc Bảo Thắng sinh năm Quí mùi (1943)
- Nguyễn Phúc Phương Mai sinh năm Đinh sửu (1937)
- Nguyễn Phúc Phương Liên sinh năm Mậu dần (1938)
- Nguyễn Phúc Phương Dung sinh năm Tân tị (1942)
Từ năm Mậu dẫn (1558) Thái Tổ vào Nam chiêu tập lưu dân, dem theo con cháu cùng họ hàng xây dựng cơ nghiệp ở phương Nam cho đến năm Giáp ngọ (1774) Định Vương bị thua quân Trịnh bỏ Kinh đô lánh mình vào Nam, tính non 200 năm con cháu họ Nguyễn Phúc từ một số lượng ít ỏi đã sinh sôi nảy nở trở thành một họ tộc phồn thịnh ở phương Nam. Nhung đã cực thịnh thì phải có lúc suy tàn. Biến cố năm Giáp ngọ đã khiến con cháu li tán, một số bị quân Trịnh bắt hoặc giết, một số theo chân Định Vương vào Nam rồi một phần bỏ mình trong cuộc chiến đấu chống quân Tây Sơn về sau, phần còn lại hoặc lánh mình nơi thảo dân, hoặc theo Thế Tổ lưu lạc nay dây mai đó trong giai đoạn mà người ta thường gọi là "tẩu quốc". Nhưng chính trong giai đoạn lận đận, khốn cùng này, con cháu trong họ vẫn mang ý chí phấn dấu, dã cùng với phần lớn binh sĩ khi thì chiến dấu khi thì khai hoang những vùng đất tại miền Nam, nơi mà trước đây chưa hề có bước chân người, để khiến cho Thế Tổ có nơi nương tựa trong cuộc chiến giành lại cơ nghiệp về sau. Vì thế nhiều chi họ của ta còn nương náu sống tại miền Nam cho đến ngày nay,
Nhờ ân trạch của các Tiên vương dã thẩm nhuần khắp phương Nam, nên Thế Tổ được nhiều tầng lớp dân chúng trợ giúp đánh bại quân Tây Sơn. Suốt 25 năm trời chiến đấu gian khổ, ngài đã khôi phục Kinh đô, rồi thống nhất đất nước. Con cháu trong dòng họ bấy giờ cùng nhau qui tụ lại để xây dựng đất nước trong giai đoạn trung hưng. Nước ta dần dần được ổn định, để đến đời Thánh Tổ mọi việc đều được củng cố, đất nước được mở mang thêm, đạt đến giai đoạn cực thịnh trong lịch sử. Việc cai trị tuy đã được các đời nghiên cứu, tham khảo các triều đại trước đây ở Trung Hoa cũng như nước ta, nhưng sau một thời gian thái bình lâu dài, hưởng thụ nhiều, nền tảng đạo đức giảm sút dần, các bậc anh tài có trí óc theo kịp với biển chuyển thế giới, không có cơ hội tham gia ý kiến, trong họ tộc lại thiếu đoàn kết, đặt quyền lợi cá nhân lên trên quyền lợi chung khiến đưa dần đất nước vào lòng kiềm tỏa của ngoại nhân và gây nên việc thất thủ kinh đô chết chóc khủng khiếp. Tuy đây là tình trạng chung của nhiều quốc gia, bị thực dân xâm chiếm nhưng đó cũng là diễu lầm lỗi sẽ được lịch sử đánh giá.
Như người xưa đã nói "tề gia" rồi mới "trị quốc". Để việc cai trị được củng cố, việc tổ chức và quản lý người trong họ tộc là việc ưu tiên, nhất là đối với dòng họ ta càng ngày càng đông. Việc này đã khởi đầu từ đời Thế Tổ và được kiện toàn vào đời Thánh Tổ cùng Hiến Tổ. Giống như Tông thất các triều đại trước đây ở nước ta cũng như Trung Hoa, việc tổ chức này tùy hoàn cảnh mà đổi thay. Thời phong kiến thi cấp đất mà phong, thời quân chủ thì ban bổng lộc và chức vị cho con cháu. Lúc mới bước chân vào Nam, thời Thái Tổ và Hy Tông hoàng đế trước áp lục quân Trịnh phải giao những chức vụ trọng yếu cho những người trong họ, nhưng dần dần phải nhường quyền cho các bậc anh tài để lui về củng cố họ tộc. Đến khi Thái Tổ thống nhất đất nước việc quản lý họ tộc là vấn đề tiên quyết, nhất là họ tộc bị li tán một thời gian dài. Con cháu có khuôn phép, nề nếp thì mới an quốc định dân được. Thánh Tổ đã nơi theo triều Minh bên Trung Hoa đã đặt Tông nhân phủ mà cầm đầu là Tả tông lệnh với Tả Hữu Tông Chính do các Thân công đảm trách, để coi sóc người trong họ và cố vấn trong việc trị nước. Từ đã họ tộc được phân chia thành Tiền hệ, Chinh hệ, Đế hệ và Phiên hệ. Điều này cốt phân biệt thứ tự cùng thân sơ. Thân để chỉ những hoàng tử, hoàng tôn, hoàng đế. Sơ để chỉ những bà con khác mà gọi chung là Tông thất. Như thời còn Hiến Tổ trị vì thì con cháu ngài (đệ III chính hệ) và con cháu Thánh Tổ (đệ II chính hệ) gọi là Thân, bước sang đời Dục Tông thì đệ II chính hệ trở thành sơ). Đó là lẽ bình thường trong tông tộc các Đế vương. Sự phân chia cốt để tạo ổn định (1) Thời đức Thánh Tổ gọi là Tông nhân phủ, nhưng đến khi Thánh Tổ mất Hiến Tổ lên kế nghiệp vì kiêng chữ "Tông" tên của Hiến Tổ và chữ "Nhân" chữ trang biểu hiệu của Thánh Tổ nên về sau phải đọc trại thành Tôn nhân phủ.
(1) Các vi Thượng thư mới này thay thế các Thượng thư cũ là Nguyễn Hữu Bài (bộ Lai), Tôn Thất Đàn (bộ Hinh), Phạm Liệu (bộ Binh), Vô Liêm (bộ Lễ), Vương Tủ Đại (bộ Công). Việc này được Hoài Nam Nguyễn Trọng Cẩn ghi lại trong bài thơ sau, đến nay còn truyền tụng :
Năm tru khi không rớt cái ình,
Đất trời sấm dậy thảy đều kinh.
Bài không đeo nữa đem dâng Lại.
Đàn nỗ ai nghe khéo dầu Hinh.
Liệu thế không xong Binh chẳng được.
Liêm đành giữ tiếng Lễ đừng tinh.
Công danh thôi thế là hưu hỉ,
Đại sư xin nhường lớp hậu sinh.
(2) Đến đời vua Dục Tông là định đổi con cháu Đệ II chính hệ thành Tông thất, nhưng lúc đó đang có chiến tranh với Pháp nên không kịp tiến hành. Về sau đến đời Thành Thái đã cũ sắc dụ đổi con cháu trong đệ II và III chính hệ thành Tông thất, nhưng uy quyền vua đã giảm sút, nên con cháu trong hệ này về sau chỉ xưng tên mà thôi, tình trạng này kéo dài cho đến bây giờ.
trong việc cai trị. Thân mà nắm quyền hành lớn dương nhiên tạo mầm mống tiếm quyền để sinh loạn, vì thế thường cho bổng lộc, có tước mà không có chức. Sơ thì không có bổng lộc nhưng vu tiên dùng theo tài năng nên luôn luôn gắng sức mà lo củng cố dòng họ. Vì thế suốt mấy trăm năm cầm quyền họ ta luôn có những bậc anh tài về mọi mặt.
Trong giai đoạn về sau khi người Pháp can dự vào quyền chính, uy quyền của nhà vua giảm sút đáng kể, việc quản lý họ tộc cũng lỏng lẻo, việc phong tước cũng thiếu thận trọng so với các đời trước, tuy chỉ là hư danh, vì thế chỉ lo hưởng thụ, việc gìn giữ thanh danh cũng kém dần, khiến họ hàng càng lúc càng xa cách. Việc phân chia Tiền hệ, Chính hệ, Phiên hệ, Đế hệ lại trở thành mối hiềm nghi phân biệt trong họ tộc, làm mất thâm ý của các Liệt Thánh ngày trước.
Việc dựng lại phả hệ mấy mươi đối với những Hệ, Phòng chặt chẽ cho thấy sự phân chia rành mạch, thủ lớp, là một mối dây liên kết họ tộc thành một khối, giúp cho con cháu thấy được dức độ của tiên tổ, để cùng nhau đoàn kết giữ gìn đức hạnh làm sáng tỏ ăn dức cũng như công nghiệp của tiền nhân, tạo sự bền vững cho họ tộc để cùng sánh bước với các họ tộc khác trong cả nước làm rạng rỡ cho Tổ quốc Việt Nam yêu quý.

Tài liệu tham khảo:
Cuốn sách "Theo Dấu Hoàng Hậu Nam Phương và Vua Bảo Đại" cùng các bài khảo cứu tiểu sử độc lập (như của Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn) đã chỉ rõ:
Chi tiết nội dung: Trong tất cả các giấy tờ khai sinh và giấy tờ rửa tội tại Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn (vào ngày 18/11/1913), tên thật của bà được ghi nhận rành rành là Jeanne Mariette Nguyễn Thị Lan.
Lý giải sự thêu dệt: Thân phụ của bà tên là Pierre Nguyễn Hữu Hào (tước Quận công). Theo thói quen Nho giáo và tâm lý sính chuộng sự quyền quý của người đời sau, chữ "Hữu" đã được tự ý cắt ghép từ tên của cha bà đưa vào tên con gái thành "Nguyễn Hữu Thị Lan" để tạo cảm giác về một dòng họ mang danh gia vọng tộc.

Bình luận
0 bình luậnChưa có bình luận nào. Hãy là người bình luận đầu tiên.